Hiển thị các bài đăng có nhãn GIÁO DỤC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GIÁO DỤC. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

Đôi chân trần

Cập nhật lúc 17:01, Thứ Tư, 08/01/2014 (GMT+7)
“Một mình lang thang trên đất này. Theo bước chân cha ông từng ngày. Một mình qua sông qua núi đồi. Tìm mặt trời và tìm lời ru ngàn đời…”
 
 (Lời bài hát “Đi tìm lời ru mặt trời” của Y Phôn K’So).  
 
1. Ở Tây Nguyên có ba đỉnh núi cao ngất, sừng sững, choãi chân vững chãi ở ba góc trời: Ngok Linh phía bắc, Cư Yang Sin phía tây và Bi Đúp phía nam. Ba đỉnh núi như những nóc nhà chở che miền cao phía tây tổ quốc. Những đỉnh núi ngàn năm mây phủ ấy, vừa xa lạ, thách thức lại vừa gần gũi, thân thuộc. Xa, vì không dễ mấy ai có thể đặt chân tới đỉnh. Gần gũi và thân thuộc vì người Tây Nguyên từ khi đôi mắt biết nhìn ngước lên đã trông thấy những đỉnh núi thiêng vời vợi trước mặt. Giống như người đồng bằng đi xa nhớ da diết cánh đồng, người cao nguyên rời buôn làng là hồn lại ngóng về với núi. Cũng như người miệt biển luôn khát khao chinh phục đại dương, người miền rừng cũng nuôi trong mình ngọn lửa khao khát một lần bước chân tới cổng trời. Con cháu của tù trưởng Đam San huyền thoại từ lúc rời bầu vú mẹ đã ao ước một lần đặt bàn chân trần lên những đỉnh núi hoang sơ, hùng vĩ ấy và cất tiếng hú dài lan tỏa thanh âm ra suốt những triền thung lũng tít tắp xa mờ…
 
Trong hỗn mang huyền tích, trong triết lý sơ khai, những tộc người trên núi đỏ rừng xanh không hiểu rõ lắm là vũ trụ được sinh thành từ đâu, nhưng có hai trong những yếu tố cấu thành nên vật chất trong ý niệm của họ là Nước và Lửa. Thần linh là những gì gần gũi. Những vật thiêng luôn hiện hữu trên mỗi bước chân. Đất thiêng, rừng thiêng, núi thiêng, sông thiêng, suối thiêng, cây cổ thụ thiêng, hòn đá lớn cũng thiêng. Yàng có mặt nơi nơi. Nhưng, Nước và Lửa là những yếu tố vật chất thiêng liêng mà gần gũi nhất. Bỡi lẽ vậy, các tộc người Tây Nguyên đã tôn vinh hai vị “hoàng đế” của họ - vua Nước và vua Lửa, tức Thủy Xá và Hỏa Xá. Những vị vua không ngai vàng, không lãnh thổ, không bá quan văn võ nhưng là biểu tượng tinh thần, là hình ảnh sống động trong tâm thức thần dân sống giữa rừng già. Nước và Lửa đã hun đúc ý chí, luyện rèn sức mạnh và bồi đắp tâm hồn. Đôi chân trần từ lúc sinh thành đã được ngâm trong dòng nước mát sông Mẹ và sưởi ấm từ ngọn lửa rừng Cha. Nước và Lửa đã trui rèn thân xác cho những người con Tây Nguyên, những con người chỉ có đôi chân trần bám trên mặt đất. Những đôi chân trần cồng kềnh, vạm vỡ. Những đôi chân trần mạnh như hổ, nhanh như báo, dẻo như trăn. Những bước chân sải lên từng thớ đất cao nguyên phóng khoáng và ngang tàng như được nâng bổng bằng đôi cánh của các loài chim núi… 
 
 Cao nguyên huyền thoại. Ảnh: BN
Cao nguyên huyền thoại. Ảnh: BN
         
2. Theo tinh thần bất khuất của tù trưởng Đam San từng lên tận cửa nhà trời bắt nữ thần Mặt Trời về làm vợ, những dũng sĩ Tây Nguyên chân trần từng tập hợp sức mạnh thống nhất các bộ tộc. Đáp lời Bok Hồ, noi gương anh hùng Núp, những người con trai con gái Tây Nguyên đầu đội trời, chân đạp đất đã vót chông, gùi đạn, cưỡi voi rùng rùng vượt Trường Sơn ra trận trong sự nghiệp giải phóng quê hương. Những người thợ săn voi Tây Nguyên cũng chỉ đôi chân trần vượt rừng sâu núi cao chinh phục khắp mọi nẻo đại ngàn. Chân trần lên rẫy, lên nương tỉa bắp, trồng cà phê, gieo hạt lúa. Chân trần lội sông bắt cá, vào rừng lấy mật. Chân trần quấn quyện trong vòng xoang, trong ánh lửa, trong nhịp cồng chiêng đắm say, huyễn hoặc. Vồng ngực căng buông thả tự nhiên, vòng lưng uốn khố, chân trần tràn căng sức sống giữa vũ trụ phồn sinh…        
 
Người Tây Nguyên không sợ hãi núi cao, rừng thẳm. Những dòng sông hùng vĩ, những thác cao hung hãn không làm họ chùn bước. Dã thú sơn lâm cũng trở thành bạn bè. Không có gì, chỉ có đôi chân trần và tâm hồn phóng khoáng, chỉ có sức mạnh ẩn tàng và những tích tụ văn hóa ngàn đời mà họ an nhiên, tự tại, hòa hợp cùng thiên nhiên hoang dã. Núi đã nuôi, rừng đã dưỡng, những người con đại ngàn cứ thế lớn lên. Sức mạnh của họ được hấp thụ từ mạch nguồn thiên nhiên bất tận. Thức ăn của người Tây Nguyên nào có gì cao lương mĩ vị? Miếng ngon xứ rừng chỉ là biăp pờrùng (rau), kơnàp (con mối cánh), gòl (đọt mây), kasràt (cá muối chua) hay blơn prièn (quả cà đắng) nấu với con cá suối. Chỉ miếng sáp mật ong và ngụm nước chiết từ rễ cây mà vượt qua vài đỉnh núi bước chân không mỏi, tiếng hú vang xa tới ba buôn, bốn rừng…
 
Chỉ vậy thôi, mà họ từng sống trên đất này từ cái thuở khỉ đánh đu trêu người, voi đi lững thững bình yên, hổ báo lang thang bìa rừng. Những bắp chân trần của những người đàn ông đóng khố vác xà gạc, những người đàn bà lúi húi mang gùi. Họ cứ đi trên những con đường rừng mòn lối, băng qua những dãy núi điệp trùng. Người Bana, người Jarai vấn khố lội qua đầu nguồn sông Ba hùng vĩ. Người Êđê, người Mơnông ngập thân trong dòng K’Rông Ana, K’Rông Anô nghĩa tình rồi xuôi về thảo nguyên Madrăk. Người Châu Mạ, người Kơho ngược dòng Đạ Dâng và thung thăng giữa cao nguyên Lang Bian bát ngát dã quỳ vàng. Người Churu theo những lối mòn xuyên giữa rừng già tìm hướng về phía biển.
 
Những bước chân trần. Họ mang theo tâm hồn mình những giấc mơ phiêu bồng, những huyền thoại bất tận về một miền cao nguyên bí ẩn, mênh mang...  
 
3. Ngày buôn làng mở hội. Những bắp chân trần quấn quyện vào nhau, quấn quyện vào ánh lửa, dưới bóng thần linh nguyện cầu cho mùa màng tốt tươi. Ngày gái trai trao vòng cầu hôn, hai cặp chân trần quỳ bên nhau hẹn thề trăm năm cầm sắt trước thần Sông, thần Núi. Người mẹ ôm con trẻ sơ sinh nhúng đôi chân măng tơ vào dòng suối ven rừng trong ngày lễ đặt tên Nhu S’đăn cũng mong cho con lớn lên chân cứng đá mềm. Ngày Pơthi đưa hồn người đồng tộc về với cõi Yàng, những đôi chân trần lại quỳ bên nhau khóc tiễn. Người nằm xuống, rũ bỏ tất cả những mùa nhớ, tháng quên, chỉ mang theo đôi chân trần về miền xa thẳm… 
          
Như Y Moan nằm đó. Người nghệ sĩ của đại ngàn mà ngọn lửa đam mê như bốc cháy cả cao nguyên không tắt nhưng thân xác của anh đã yên nghỉ dưới lòng đất bazan. Anh trả lại cho đời tất cả. Gửi lại giọng hát, gửi lại những vinh quang. Anh lặng lẽ nhón bước chân trần về với cõi Yàng, nơi đầu nguồn K’Rông Ana, nơi giao dòng K’Rông Ano. Trước ngôi mộ Y Moan, tôi lặng lẽ nghiêng mình và như thấy đó đôi chân trần của anh thả lỏng lơi trên đất. Đôi chân ấy từng thoăn thoắt bám theo thân khố của cha lên rừng săn thú. Đôi chân ấy từng chìu níu theo tà váy mẹ lên rẫy hái quả. Chân khỏa nước dịu dàng cùng người con gái ngực trần lội xuống bến tắm. Chân nhịp theo tiếng hót chim Phí, chim Tia Chôm. Và tiếng hát, tiếng hát thì vang vọng, thẳm sâu, ma lực, huyễn hoặc. Nhưng bây giờ thì Y Moan nằm đó. Đôi chân trần của anh vĩnh viễn dừng bước. Người đàn ông Ê Đê sống một cuộc đời đam mê đã ngủ yên dưới lớp đất bazan. Tôi lặng lẽ bái vọng hương hồn Y Moan và nhẩm theo tiếng hát mà anh từng da diết cất lên qua giai điệu của người nhạc sĩ đồng tộc Y Phôn K’So: Ôi, ngày tháng, đôi vai gầy/ run run tựa vào hàng cây/ Ôi thời gian, hãy quên đi/ đôi chân cồng kềnh/ cha đi giữa rừng hoang vu/ Lưng cha thì đội nắng gầy/ ôi tóc bạc tựa trăng soi/cả cuộc đời và cả một đời/đôi chân trần… 
 
Nghẹn ngào. Da diết. Hoang hoải. Phiêu linh…Tiếng hát Y Moan cất lên. Những giai điệu dân ca Ay ray, Kơ ứt, Lả lông, Jalyau cất lên. Tôi như được tắm mình trong không gian đẫm ánh trăng xanh rừng cao nguyên. Như được nô giỡn cùng đàn thú hoang giữa thảo nguyên ngập tràn nắng gió. Như được khỏa lên gương mặt nhuốm bụi đất của mình những tia nước mát lạnh của dòng suối trong giữa hoang vu đại ngàn và ngả mình xuống bãi cỏ dịu êm. Xung quanh tôi là những bắp chân trần, những bước chân trần trong vòng xoang rực cháy. Ở ngoài kia cao nguyên trùng trùng những trận gió hoang dại. Ai đó ngậm đọt lúa làm khèn Đinh Puốt. Tiếng lục lạc trâu gõ đều trong đêm. Tiếng đàn tre đẩy nước ngoài bến sông kẽo kẹt. Tiếng chim gọi bầy khắc khoải bay về núi xa. Tiếng con nai, con hươu tìm nhau tha thiết.
 
* * *
 
Bây giờ đang là tháng giêng. Mùa này Tây Nguyên, hoa dã quỳ vẫn tràn nắng vàng khắp núi đồi, thung lũng. Mùa lễ hội, mùa nhớ, mùa quên, mùa xoang, mùa hát. Mùa lãng du nồng nàn. Mùa da diết buồn vui trong lành. Trong những đôi mắt màu nâu như ánh lên giấc mơ về những thuở ngày xưa, thưở những bước chân trần đầu tiên cha ông khai mở đất cao nguyên. Cho hôm nay, những lớp lớp chân trần quấn quyện bên nhau như nhiều cây thành rừng, trùng điệp rừng, thăm thẳm rừng thành đại ngàn hùng vĩ...   
 
Tùy bút: UÔNG THÁI BIỂU
,

7 học sinh tủ nạn

học sinh tử nạn: Đội bảo vệ chậm trễ, ca nô cứu hộ hết xăng?
(Dân trí) - Một người bán hàng rong kể, thời điểm xảy ra tai nạn có rất nhiều người hô hoán nhưng một lúc sau đội bảo vệ, cứu hộ mới kéo được ca nô ra bờ biển. Đang kéo thì xe kéo ca nô bị gãy bánh, lúc nổ máy thì ca nô lại hết xăng...
 Nỗi đau không thể bù đắp của gia đình các nạn nhân
Nỗi đau không thể bù đắp của gia đình các nạn nhân
Cái chết thương tâm của 7 em học sinh Trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm khiến dư luận bàng hoàng và để lại nỗi đau không gì có thể bù đắp cho gia đình các nạn nhân. Có rất điều cần được làm rõ từ chuyến di lịch định mệnh này. Trong ngày 30/12, PV Dân trí đã tiếp xúc với người nhà của 5/7 em học sinh tử nạn khi tắm biển tại bãi biển 30/4 huyện Cần Giờ (TPHCM), hầu hết mọi người đều xác định đây là sự cố ngoài ý muốn nhưng vẫn mong cơ quan chức năng sớm làm rõ nguyên nhân dẫn đến cái chết thương tâm của 7 học s

internet công cộng

NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG DỰ ÁN
Kết quả bước đầu triển khai Dự án Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet công cộng trên địa bàn tỉnh Đăk Nông
Ngày cập nhật: 27/11/2013

alt
Điểm truy cập Internet công cộng tại tỉnh Đắk Nông
Đến nay, sau hơn một năm triển khai, được sự quan tâm tạo điều kiện thuận lợi của UBND tỉnh, sự phối hợp chặt chẽ giữa Sở Thông tin và Truyền thông,Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, các đơn vị tiếp nhận và đơn vị có liên quan đã tiến hành lắp đặt thiết bị và đưa vào sử dụng tại Thư viện tỉnh, 07 thư viện huyện, 10 thư viện cấp xã và 24 điểm bưu điện văn hóa xã với tổng số 280 máy tính có kết nối mạng, 42 máy in và các thiết bị ngoại vi.


Sau hơn một năm triển khai Dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy cập Internet công cộng tại Việt Nam” đã đem lại hiệu quả thiết thực, giúp cho người dân ở khu vực nông thôn và vùng khó khăn có cơ hội tiếp cận, khai thác thông tin, tìm hiểu pháp luật, áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, góp phần cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo. Thu hẹp khoảng cách thụ hưởng do công nghệ thông tin và truy cập Internet mang lại giữa người dân thành thị và nông thôn trên địa bàn tỉnh. Tính đến hết tháng 9/2013, theo số liệu thống kê của Thư viện tỉnh và Bưu điện tỉnh tổng số lượt người truy cập là 35.735 lượt người truy cập. Mặt khác, trong điều kiện một tỉnh còn khó khăn, nguồn ngân sách còn hạn hẹp nhưng UBND tỉnh đã quan tâm ban hành Quy định mức chi nguồn kinh phí để duy trì hoạt động nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet cộng công trên địa bàn tỉnh nhằm hỗ trợ thêm thù lao cho nhân viên Bưu điện văn hóa xã và Thư viện xã.


Theo đó Quy định của UBND tỉnh về chi trả kinh phí để duy trì hoạt động Dự án nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet công cộng trên địa bàn tỉnh bắt đầu áp dụng từ tháng 9/2013, đối với nhân viên phụ trách điểm Bưu điện văn hóa xã (24 Bưu điện): 400.000đồng/người/tháng (ngoài mức trợ cấp hàng tháng 650.000/người do Bưu điện tỉnh chi trả); Đối với nhân viên Thư viện xã kiêm nhiệm: 350.000đ/người/tháng, đối với nhân viên Thư viện xã chưa được hưởng phụ cấp: 1.100.000đồng/người/tháng. Thời gian thực hiện từ ngày 01/9/2013 đến hết năm 2017 (thời gian hết hiệu lực của Dự án Bill and Melinda Gates tài trợ).


Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả bước đầu của việc triển khai Dự án Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet công cộng tại Đăk Nông trong thời gian qua vẫn còn những tồn tại hạn chế như: Một số Thư viện xã nằm trong trụ sở UBND xã nên chưa thuận lợi cho người dân đến khai thác, sử dụng dịch vụ, truy cập Internet; một số đơn vị triển khai đường truyền không ổn định, ảnh hưởng đến việc sử dụng, truy cập Internet; mức thu nhập của nhân viên Bưu điện văn hóa xã và Thư viện xã còn thấp…


Để nâng cao hiệu quả của Dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet công cộng tại Việt Nam” góp phần cải thiện đời sống của người dân, xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí và thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa khu vực thành thị và nông thôn cần có những giải pháp sau: cần có chính sách khuyến khích nhân viên Bưu điện văn hóa xã và Thư viện xã làm ngoài giờ để thuận lợi cho người dân đến khai các dịch vụ, truy cập Internet; tăng cường công tác tuyên truyền thu hút người dân trên địa bàn sử dụng dịch vụ Internet ở Bưu điện văn hóa xã và Thư viện xã; tăng cường công tác đào tạo, tập huấn ứng dụng công nghệ thông tin cho nhân viên ở Bưu điện văn hóa xã và Thư viện xã; các cơ quan chủ quản cần thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để Dự án triển khai mang lại lợi ích thiết thực nhất; cần có giải pháp lâu dài sau khi Dự án kết thúc để duy trì, xây dựng Thư viện, Bưu điện văn hóa xã thành trung tâm học tập cộng đồng, góp phần xây dựng nông thôn mới, hướng đến xây dựng thành công “chính quyền điện tử”, “chính phủ điện tử” tại Đắk Nông nói riêng, trong cả nước nói chung.


Đức Lộc (Sở TTTT)